Địa chỉ: 86 Phố Lò ĐúcHai Bà Trưng
Điện thoại: 02439782740
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

THƠ, TRUYỆN CHO TRẺ 5-6 TUỔI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2019-2020

Thơ: Cây dừa

Thơ: Mèo đi câu cá

Thơ: Ảnh Bác

 

Thơ: Mười hai tháng gió

 

 

Thơ: Nắng bốn mùa

Thơ: Bé vào lớp 1

 

Truyện: Sự tích hoa hồng

Ngày xưa, hoa hồng chỉ toàn một màu trắng tinh. Những bông hoa hồng nói với nhau :
- Ước gì chúng ta có nhiều màu sắc như các loại hoa khác.
- Ừ nhỉ ! Giá mà chúng ta có được màu đỏ rực rỡ của hoa thược dược, màu tím ngắt của hoa lưu ly, màu vàng tươi của hoa cúc.
- Nhưng chúng ta biết làm cách nào bây giờ ?
Đúng lúc ấy, có một nàng tiên bay qua và nghe được câu chuyện của những bông hoa hồng. Nàng thầm nghĩ : “Mình sẽ giúp các bạn hoa hồng !”.
Nàng tiên bay đến gặp thần Mặt Trời và nói :
- Xin thần hãy ban cho loài hoa hồng sắc đỏ rực cháy của thần !
Thần Mặt Trời vuốt râu cười khà khà, gật đầu đồng ý.
Nàng tiên cảm ơn Thần Mặt Trời rồi bay tới gặp nữ Thần Mặt Trăng và nói :
- Xin nữ Thần ban cho loài hoa hồng sắc vàng êm dịu của thần !
Nữ Thần Mặt Trăng mỉm cười gật đầu.
Sáng sớm hôm sau, khi nàng tiên trờ lại vườn hồng thì cây lá tưng bừng chào đón. Bông hồng đỏ thắm thiết giữa các bông hồng mỉm cười chào nàng tiên. Nàng tiên nói :
- Từ nay, bạn có tên là Hồng Nhung. Các bạn hoa hồng có cánh màu vàng thì gọi là Hồng Vàng. Còn những bông hoa vẫn giữ mãi mãi màu trắng tinh thì gọi tên là Hồng Bạch.
Hoa Hồng Nhung băn khoăn hỏi :
- Tiên nữ ơi, nàng bay khắp đó đây, nàng có biết ai đã biến màu cho loài hoa hồng chúng tôi không ?
Tiên nữ trả lời :
- Đó là thần Mặt Trời, Mặt Trăng, là hơi ấm, ngọt ngào của Đất mẹ, là nắng gió, là mưa và sương đêm, là bạn bè ở khắp nơi đấy !
Những bông hồng cùng lên tiếng :
- Vậy thì chúng tôi phải làm gì để đáp lại lòng tốt của họ ?
- Các bạn hãy mang hương sắc của mình làm đẹp cho cuộc sống. Đó là cách trả ơn đáng quý nhất.
Nói rồi, nàng tiên vui vẻ bay đi để khoe với tất cả mọi người rằng : Đã có một loài hoa hồng muôn sắc hương rực rỡ.
Thế rồi từ đó, hoa hồng có nhiều màu sắc như bây giờ.

 

Truyện: Sự tích cây khoai lang

 

Ở bìa rừng, có hai bà cháu nghèo khổ sinh sống. Hằng ngày, hai bà cháu phải đi đào củ mài để ăn. Một hôm, cậu bé nói với bà:

- Bà ơi, bây giờ cháu đã lớn. Từ nay trở đi, cháu sẽ đi kiếm củi đổi lấy thóc giống và cây lúa để có gạo nấu cơm cho bà ăn, ăn củ mài mãi thì khổ lắm!

Từ đó, cậu bé cấy cày và chăm chút cho nương lúa của mình. Nhìn cây lúa trổ bông, rồi chín vàng, cậu sung sướng nghĩ: “Thế là bà sắp được ăn cơm rồi!”.

Nhưng chẳng may, một hôm cả khu rừng bị cháy thành tro. Cậu bé buồn quá, bưng mặt khóc. Bỗng có ông Bụt hiện lên và bảo:

- Hỡi cậu bé hiếu thảo chăm chỉ, ta cho con một điều ước, con hãy ước đi!

- Thưa ông, con chỉ mong bà của con không bị đói thôi, bà con già yếu lắm rồi…
Ông Bụt gật đầu và biến mất.

Buổi trưa cậu bé vào rừng đào củ mài nhưng kiếm mãi cũng chẳng còn củ nào. Đến vài cái nấm hay khóm măng chua cũng chẳng có.

Bỗng cậu bé đào được một củ gì rất lạ. Ruột nó màu vàng nhạt và bột mịn mềm. Cái củ đó cũng bị lửa rừng hâm nóng và bốc mùi thơm ngòn ngọt. Cậu bé bẻ một miếng nếm thử thì thấy ngon tuyệt, Cậu bèn đào thêm mấy củ nữa đem về mời bà ăn. Bà cũng tấm tắc khen ngon và thấy khỏe hẳn ra. Bà hỏi:

- Củ này ở đâu mà ngon vậy hả cháu?

Cậu bé hào hứng kể lại câu chuyện được gặp ông Bụt cho bà nghe. Bà nói:

- Vậy thì thức củ này là của ông Bụt ban cho người nghèo chúng ta đấy. Cháu hãy vào rừng tìm thứ cây quý đó đem trồng khắp bìa rừng, bờ suối để cho mọi người nghèo cũng có cái ăn.

Nếu ai muốn trồng, chỉ cần đem vài dây khoai xuống đất và chăm bón thì tới mùa sẽ thu hoạch được rất nhiều củ.

Và cho đến bây giờ, khoai lang vẫn được nhiều người ưa thích.

 

Truyện: Chú sâu đói bụng

 

Dưới ánh trăng có một quả trứng nằm gọn trên một chiếc lá. Vào một sáng Chủ nhật ấm áp, quả trứng nở ra một chú sâu háu đói và chú bò đi tìm thức ăn.
Ngày thứ Hai, chú ăn 1 quả táo nhưng vẫn thấy đói bụng.
Thứ Ba chú ăn 2 quả lê nhưng vẫn thấy đói bụng.
Đến thứ Tư, chú ăn hết 3 trái mận mà vẫn thấy đói bụng.
Thứ Năm, chú ăn hết 4 trái mận mà vẫn thấy đói meo.
Thứ Sáu, chú ăn hết 5 trái cam nhưng vẫn đói.
Thứ Bảy, chú ăn 1 miếng bánh sô-cô-la, 1 chiếc kem ốc quế, 1 trái dưa chuột muối, 1 lát phô mai Thụy Sỹ, 1 lát xúc xích salami, 1 chiếc kẹo mút, 1 miếng bánh sơ-ri, 1 chiếc xúc xích, 1 chiếc bánh cắp-kếch, 1 miếng dưa hấu và đêm đó chú bị đau bụng.
Chủ nhật, chú ăn một chiếc lá xanh ngon lành và thấy đỡ hơn.
Chú bây giờ không đói nữa và trở thành một chú sâu bướm béo mập. Chú xây một ngôi nhà nhỏ gọi là kén bao lấy thân mình. Chú nằm trong kén hơn 2 tuần rồi đục lỗ chui ra và biến thành một chú bướm xinh đẹp.

 

Truyện: Chú dê đen

 

Có một chú Dê Trắng đang đi tới một khu rừng để tìm ăn những chiếc lá non và uống nước suối. Bất chợt, một con Sói ở đâu đi tới trước mặt, nó quát hỏi:

Dê kia, mày đi đâu?
- Tôi đi tìm lá non để ăn và nước mát để uống.
- Mày có gì ở chân?
- Chân tôi có móng.
- Trên đầu mày có gì?
- Trên đầu tôi có sừng.
Sói hỏi tiếp:
- Bây giờ mày hãy trả lời tao: Tim mày thể nào?
- Tim tôi đang run sợ.
- A! Ha!
Sói cười vang rồi ăn thịt luôn chú Dê Trắng.
Một chú Dê Đen cũng tới khu rừng đê ăn lá non và uống nước suối. Sói đã ngồi sẵn ở đó. Thấy Dê Đen đi qua, nó quát hỏi:

Dê kia, mày đi đâu?
- Tao đi tìm kẻ nào hay gây sự đây.
- Mày có gì ở chân?
- Chân thép của tao có móng bằng đồng.
- Trên đầu mày có gì?
- Trên đầu tao có đôi sừng bằng kim cương.
Sói lại tiếp.
- Thế bây giờ mày hãy trả lời tao: tim mày thế nào?
- Trái tim thép của tao bảo tao: hãy cắm đôi sừng bằng kim cương của tao vào bụng mày. Nào Sói hãy lại đây thử xem!
Sói sợ quá vội vàng chuồn thẳng.

 

Truyện: Nòng nọc tìm mẹ

 

Một đàn Nòng Nọc bơi quanh ao tìm mẹ. Cá Chép thấy vậy bảo chúng:
- Mẹ của các cậu có mắt lồi ra cơ.
Đàn Nòng Nọc vội vàng bơi đi tìm mẹ mắt lồi.
Vừa thấy cô Tôm có mắt lồi ra, Nòng Nọc mừng rỡ gọi to:
- Mẹ ơi, mẹ! Chúng con đây!
Nhưng cô Tôm đáp:
- Cô không phải là mẹ của các cháu, mẹ của các cháu có bốn chân kia.
Đàn Nòng Nọc lại tiếp tục đi tìm, và chúng gặp bác Rùa. Thấy bác có bốn chân, Nòng Nọc vui mừng gọi:
- Mẹ ơi!
Bác Rùa lắc đầu:
- Ta không sinh ra các cháu, mẹ các cháu có bụng trắng cơ.
Đàn Nòng Nọc chưa nghe bác Rùa nói hết đã vội bơi đi. Chúng tìm gặp chị Ngỗng lông bụng trắng như bông gọi:
- Mẹ, mẹ!
Chị Ngỗng cười:
- Mẹ của các em biết hát “ộp, ộp” cơ.
Đang thất vọng, chợt Nòng Nọc nghe có tiếng gọi:
- Các con yêu, mẹ ở đây này!
Một chị Ếch có đôi mắt lồi, có bốn chân và biết hát “ộp ộp” xuất hiện.
Nòng Nọc ngạc nhiên hỏi:
- Nhưng sao chúng con chẳng giống mẹ tẹo nào?
- Bây giờ các con còn nhỏ. Chỉ mấy hôm nữa thôi, các con sẽ rụng đuôi và mọc thêm bốn chân giống như mẹ.
Đến lúc này Nòng Nọc mới tìm được đúng mẹ của mình.

 

Truyện: Ai ở trong nhà Thỏ

 

Buổi sáng, sau khi vừa nhấm nháp một chút cỏ non ngòai rừng về, Thỏ Tai Dài nghe thấy một tiếng động lạ vang lên trong ngôi nhà của mình.

- Ai đang ở trong nhà của tôi? Thỏ hỏi.

Một giọng ầm ầm vang lên rất đáng sợ:

- Ta ăn tê giác cho bữa trưa, ăn hà mã cho bữa tối! Nếu mi dũng cảm, thử vào trong hang động này xem.

Thỏ sợ hãi chạy đi tìm các con vật khác nhờ chúng giúp đỡ. Nó thấy Báo Hoa Mai đang nằm nghỉ trên cành cây to.

- Báo ơi ơi, bạn có thể giúp tôi không?” Thỏ khóc. Có một con vật gì đó rất lớn đang ở trong nhà tôi!

- Có, tôi có thể giúp đỡ bạn. Báo Hoa Mai trả lời rồi đi cùng về hang của Thỏ Tai Dài.

Một giọng nói âm vang lại vọng ra:

- Ta ăn tê giác cho bữa trưa, ăn hà mã cho bữa tối! Nếu mi dũng cảm, thử vào trong hang động này xem.

Báo nghe xong hoảng sợ:

- Xin lỗi Thỏ Tai Dài, mình không thể làm gì được. Nói rồi nó sải chân phóng thẳng vào rừng.

Thỏ chạy đi tìm Voi. Nó gặp Voi xám đang uống nước.

- Voi Xám ơi, bạn có thể giúp tôi không? Có con gì đó rất lớn đang ở trong nhà của tôi.

- Có, tôi có thể giúp. Voi Xám đi cùng Thỏ về nhà.

Đến nơi, Voi Xám chĩa vòi vào cửa hang, giậm bàn chân khổng lồ xuống đất thình thình rồi gọi to:

- Ai đang ở trong nhà của bạn tôi? Hãy đi ra ngay!

- Ta ăn tê giác cho bữa trưa, ăn hà mã cho bữa tối! Nếu mi dũng cảm, thử vào trong hang động này xem.

- Xin lỗi Thỏ, con vật này chắc phải lớn hơn tôi rất nhiều. Tôi không thể giúp được bạn đâu. Bạn hãy tìm Vua Sư Tử xem sao. Nói rồi nó vội rảo bước bỏ đi.

Thỏ tìm thấy Vua Sư Tử đang dạo chơi trên bãi cỏ, nó mếu máo khóc:

- Sư Tử ơi, có thể giúp đỡ tôi không? Có con gì đó rất lớn đang ở trong nhà của tôi!”

- Có, tôi có thể giúp. Sư Tử nhận lời và đi cùng về nhà Thỏ.

- Ai đang ở trong nhà của Thỏ? Sư Tử rống lên oai hùng. Ta là vua của các loài vật, ta yêu cầu mi hãy ra ngòai ngay bây giờ!

Giọng nói âm vang khủng khiếp lại vang lên:

- Ta ăn tê giác cho bữa trưa, ăn hà mã cho bữa tối! Nếu mi dũng cảm, thử vào trong hang động này xem.

Sư Tử cố giấu sợ hãi, nó bảo Thỏ:

- Tôi nghĩ Thỏ nên đi tìm hang khác để làm một ngôi nhà mới.

- Nhưng tôi không muốn rời bỏ ngôi nhà đẹp của mình. Thỏ lại khóc.

Một chú Ếch đi qua, nó hỏi chuyện Thỏ. Thỏ không tin là Ếch có thể giúp mình sau khi các con vật dũng mãnh kia bỏ cuộc. Nhưng nó cũng để cho Ếch thử xem sao.

Ếch Xanh phình bụng ra lấy hơi, ghé vào trong hang gào lên:

- Ta là một con vật màu xanh lá cây lớn nhất rừng này. Nguơi ăn Tê Giác cho bữa trưa, ăn Hà Mã cho bữa tối và ta sẽ ăn mi cho bữa sáng rõ chưa? Đi ra ngay!

Thật bất ngờ, một con Sâu Róm đầy lông bò ra khỏi hang:

- Xin đừng ăn tôi, Ếch Xanh à. Tôi chỉ đùa một chút thôi nhưng tiếng vọng trong hang động làm cho tiếng nói của tôi to và đáng sợ như vậy.

Sâu Róm nói xong liền vội bò lên một thân cây gần đó.

Thỏ Tai Dài lau nước mắt nhìn Ếch phá lên cười. Thỏ vào ngôi nhà ấm cúng trong hang của mình, Ếch Xanh nhảy lên một chiếc lá to trên mặt nước, nó phình bụng ra có nén tiếng cười khi nghĩ lại câu chuyện bất ngờ vừa rồi.

 

Truyện: Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

 

 

Cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lâm. Lớn lên Sùng Lâm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi.

Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đề bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh. Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng.

Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ.

Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hóa thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại. Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó. Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ.

Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn.

Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh. Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng.

Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ gianh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: “Hễ có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! “

Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: “Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!”. Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về.

Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao. Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi, hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc.

Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời.

Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về, nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: “Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này”.

Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:

– Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não.

Lạc Long Quân nói:

– Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.

Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.

Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.

 

Truyện: Sự tích Hồ Gươm

 

Vào thời ấy, giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam. Chúng coi dân ta như cỏ rác, thi hành nhiều điều bạo ngược làm cho thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân đã nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần bị giặc đánh cho tan tác.
Thấy vậy, đức Long quân quyết định cho họ mượn thanh gươm thần để họ giết giặc. Hồi ấy ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như lệ thường. Tự nhiên trong một lần kéo lưới, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay bắt cá, Thận mới biết đó là một thanh sắt. Chàng vứt luôn xuống nước rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay. Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận ghé mồi lửa lại nhìn xem. Bỗng chàng reo lên một mình:
-Ha ha! Một lưỡi gươm! Thận về sau gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng đã mấy lần vào sinh ra tử nơi trận mạc để diệt lũ cướp nước. Một hôm, chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong gian nhà tối om, thanh sắt hôm đó chợt sáng quắc lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi đến gần cầm lấy xem và nhận ra có hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật. Một hôm bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. ạng trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng. Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn, trong đó có Lê Thận. Khi lắp lưỡi vào với chuôi thì kỳ lạ thay, vừa vặn khớp nhau. Lê Lợi bèn kể lại câu chuyện. Mọi người nghe xong đều hồ hởi vui mừng. Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với chủ tướng:
-Đây là thần có ý phó thác cho "minh công" làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương da của mình theo "minh công" và thanh gươm thần này để báo đền xã tắc! Từ đó khí thế của nghĩa quân ngày một tăng.
Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành trên mọi trận địa và làm cho quân Minh bạt vía. Chẳng bao lâu tiếng tăm của quân Lam Sơn ran khắp nơi. Họ không phải trốn tránh trong rừng mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước. Sau khi đuổi giặc Minh về được một năm, ngày hôm ấy Lê Lợi -bấy giờ đã là một vị thiên tử -cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền chèo ra giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi làn nước xanh. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Vua đứng lên và nhận thấy lưỡi gươm thần đeo bên mình cũng đang cử động. Con rùa vàng không sợ người, nhô thêm nữa, tiến sát về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói:
-Bệ hạ hoàn gươm lại cho Long quân!
Nghe nói thế nhà vua bỗng hiểu ra, bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát, thanh gươm thần rời khỏi tay vua bay đến phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa ngước đầu lên, há miệng đớp lấy ngang lưỡi gươm. Cho đến khi cả gươm và rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dưới mặt nước hồ xanh. Khi những chiếc thuyền của bá quan tiến lên kịp thuyền rồng thì vua liền báo ngay cho họ biết:
-Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, người sai rùa lấy lại. Và từ đó, hồ bắt đầu được mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

 

Truyện: Niềm vui bất ngờ

Vào buổi sáng nắng đẹp, cô giáo dẫn các cháu đi chơi vườn Bách Thảo.
Đường đến vườn Bách Thảo đi qua Phủ Chủ tịch là nơi Bác Hồ sống và làm việc. Qua nhà Bác, các cháu thích lắm. Cháu nào cũng sung sướng reo lên:
- Nhà Bác Hồ!
- Nhà Bác Hồ đẹp quá!
- Cô ơi! Cho chúng cháu vào thăm Bác Hồ đi!
Nơi đây vốn yên tĩnh, nay bỗng trở nên ồn ào vì mấy chục cháu nhỏ. Đồng chí công an vội nói với cô giáo:
- Cô cho các cháu sang bên kia đường xem cho có trật tự!
- Cô giáo tập hợp các cháu lại. Nhưng các cháu cứ ríu rít xin cô đứng lại để xem nhà Bác:
- Cô cho chúng cháu xem một tí nữa thôi!
- Cháu xem một tí nữa thôi, cô ạ!
- Bác hồ đâu hả cô?
- Sao chúng cháu không được vào thăm Bác Hồ?
Các cháu hỏi mỗi lúc một nhiều khiến cô giáo lúng túng. Bỗng cánh cổng Phủ Chủ Tịch từ từ mở. Một đồng chí cán bộ vui vẻ nói với đồng chí công an và cô giáo cho các cháu vào. Cô giáo sung sướng, hồi hộp dẫn các cháu đi theo hàng đôi vào.
- A! Bác Hồ! Bác Hồ!
Một cháu nhỏ reo lên. Tất cả các cháu như bầy chim non bay nhanh về phía Bác. Những miệng hồng nhỏ nhắn, xinh xinh cất lên những lời chào đáng yêu:
- Chúng cháu chào Bác ạ! Chúng cháu chào Bác ạ!
Bác Hồ giản dị, hiền từ trong áo bà ba, chân đi đôi dép cao su, tươi cười đón các cháu. Bác hỏi:
- Các cháu có ngoan không?
- Thưa Bác, có ạ! –Tất cả các cháu đồng thanh trả lời.
- Bây giờ các cháu thích gì nào?
- Thưa Bác, các cháu thích vào thăm nhà Bác ạ!
- Chúng cháu thích thăm vườn của Bác ạ!
Bác dắt tay hai cháu nhỏ nhất, còn các cháu khác xúm xít theo Bác ra vườn. Bác vừa đi vừa chỉ cho các cháu xem những cây Bác đã trồng, xem hai cây vú sữa miền Nam và thăm ao cá Bác nuôi. Các cháu ríu rít đi quanh Bác Hồ. Bác dặn các cháu phải ngoan ngoãn, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và vâng lời cô giáo.
Các cháu lắng nghe Bác nói, muốn nghe mãi, muốn ở bên Bác Mãi mãi. Nhưng đã đến giờ Bác tiếp khách, cô giáo phải dẫn các cháu ra về. Bác vẫy tay chào, nhìn theo các cháu. Các cháu vừa đi vừa luyến tiếc. Cháu nào cũng cố ngoảnh lại để cố ngắm Bác chút nữa.

 

Truyện: Cầu vồng

 

Chang chang giữa trưa hè. Trên cánh đồng lúa đang đơm bông. Chàng họa sĩ ra rìa làng, say sưa ngắm cảnh đồng quê và chàng quyết định vẽ một bức tranh phong cảnh. Chàng chọn một chỗ trên đồi sao cho tầm nhìn thật phóng khoáng, rồi bầy các màu ra, chuốt lại bút lông và bắt đầu vẽ.

Chàng mải miết vẽ, chẳng để ý gì đến thời gian. Sang chiều, mặt trời ngả dần về phía chân trời. Bỗng mây đen ùn ùn kéo đến. Chẳng mấy chốc, mặt trời bị che khuất. Trời đổ mưa. Họa sĩ vội lấy ô ra để che đầu và che cả bức tranh vừa vẽ xong đang bị thấm vài giọt nước.

Các màu mệt bã người vì làm quần quật từ sáng sớm dưới nắng chói chang, rồi lại bị mưa ướt như chuột lột nên càng thấy ngao ngán. Chúng bắt đầu càu nhàu. Màu Đỏ thấy thế bèn lên tiếng bảo:

- Các bạn chán thật, chưa chi đã chán nản. Hãy kiên trì lên nào và đừng than vãn vớ vẩn nữa.

- Cậu nói ai thế?

- Màu Da Cam như tôi đây, nổi tiếng toàn thế giới. Tất cả các quả cam đều phải sơn mầu của tôi.

- Thôi đi, đúng là cái đồ vỏ cam.

Màu vàng chanh chua nói:

- Hãy nhớ rằng mặt trời, ờ, chính mặt trời, còn ai vào đây nữa. Mặt trời màu vàng. Nói gì thì nói mặt trời cũng quan trọng hơn cái vỏ cam hàng tỉ lần. Vậy mà màu Da Cam có là gì so với màu Vàng không!

- Cứ cho là thế đi.

Màu xanh lục điềm tĩnh nói:

- Nhưng các bạn nhầm rồi! Màu quan trọng nhất trên quả đất là màu của cây cỏ, của thiên nhiên. Chính con người nói, khi họ nhìn vào màu xanh là cây, mắt của họ chả được nghỉ ngơi còn gì…

- Thế còn bầu trời.

Màu Xanh Lam thốt lên, giọng nghẹn ngào:

- Làm sao các bạn có thể quên được màu xanh của bầu trời trên đầu mình. Vậy còn gì tuyệt vời hơn màu Xanh Lam này…

Nói xong Xanh Lam bật khóc òa lên vì ấm ức.

- Xem kìa, họ oách thật.

Màu Xanh Chàm mỉa mai.

- Thế còn sắc biếc của đại dương, của sông suối thì sao.

Cả bầu trời nữa, đâu chỉ xanh lam, nhìn kìa, còn có những khoảng xanh lơ nữa. Thưa các bạn, Xanh Chàm mới là màu quan trọng nhất trên thế gian.

- Các bạn bình tĩnh.

Màu Tím thì thầm nói:

- Khoe khoang màu sắc của mình như thế thật là lố bịch. Muốn gì đi nữa, màu sắc đằm thắm, huyền ảo nhất vẫn là màu Tím, cứ nhìn hoa violet thì biết…

Họa sĩ lắng nghe câu chuyện từ đầu chí cuối, chàng hiểu ngôn ngữ của các màu. Chàng yên lặng mỉm cười và vẽ lên bức tranh một cây cầu vồng trên cánh đồng lúa vàng rực.

Đúng lúc đó, mưa vụt tạnh, mây đen tan biến, mặt trời ló ra và trên cánh đồng lấp lánh muôn ánh hào quang từ một cầu vồng thật. Tất cả các màu cùng bừng sáng. Các màu nắm tay nhau và trong vòng tay ấy các màu cùng rực rỡ hơn cả ngàn lần khi đứng một mình.

Chàng họa sĩ lại mỉm cười rồi vẽ thêm một bông cúc đại đóa có các cánh hoa mang tất cả bảy sắc cầu vồng. Bông cúc trông thật là đẹp.

 

Truyện: Búp măng non

 

Từ dưới gốc, tre mẹ sinh ra rất nhiều tre con. Tre con ngủ say dưới lòng đất, người ta thường gọi chú là măng
Một ngày kia, ông Thiên Lôi trên trời gõ chiếc trống lớn "Thì thùng! Thì thùng! Đì đùng! Đì đùng!" làm cho đám măng nhỏ tỉnh giấc.

Những giọt mưa li ti lất phất thấm nhẹ xuống mặt đất. Khi làn nước mưa thấm đến thân mình, đám măng non uống nước mưa thật no. Sau đó, chúng cựa quậy, cựa quậy rồi dùng sức đâm xuyên lên mặt đất.
Có một chú Măng non súc lực khỏe mạnh, thân hình mập mạp, tròn trịa. Chú mặc rất nhiều lớp áo. Măng non lớn rất nhanh, nhưng khi chuẩn bị vươn lên khỏi mặt đất thì chú cảm thấy như có cái gì đó đang cản mình lại.
Một bạn Giun đất trườn qua, nói :
- Măng non ơi! Có một hòn đá to phía trên đầu bạn đấy!
- Thế à? Tớ biết làm thế nào bây giờ?
Giun đất đáp:
- Bạn thử tìm một lối khác để vươn lên mặt đất xem sao.
Măng non bắt đầu tìm đường bên cạnh hòn đá để đâm xuyên lên khỏi mặt đất. Nó lấy hết sức mình nhích lên phía trước, song càng nhích, nó càng mệt...Măng non nản quá.
Tre mẹ biết vậy, liền động viên Măng non:
- Con của mẹ! Hãy dũng cảm lên! Gặp khó khăn thì phải tìm cách vượt qua con ạ!
Măng non cố suy nghĩ, cuối cùng, chú tìm ra được một cách. Chú chuyển mình men theo mạch nước mưa thấm xuống. Lối đó đất mềm và trơn hơn. Thế là chú cố sức nhích lên.
A! Xuyên qua mặt đất rồi. măng non hít thật sâu luồng không khí trong lành, lòng vui phơi phới.
Một bạn Chim Sẻ bay tới nhảy trên mặt đất tìm mồi. Thấy Măng non từ khe đất nhú lên, Chim Sẻ khâm phục nói:
- Măng non ơi, bạn giỏi quá!
Măng non cảm thấy thật vui và tự hào. Măng non cùng với các bạn khác được ông mặt trời chiếu sáng và lớn lên mạnh mẽ. Từ búp Măng non, chú đã trở thành cây tre nhỏ giống như mẹ. Những cây tre nhỏ sẽ hợp thành một rừng tre mới.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết